chucxuan

Kính mời quý vị tham dự Paltalk "Tieng noi Phap dinh VNCH" từ 8:00pm, giờ California. Cách vào Paltalk, bấm vào đây.

-------o0o-------

 

Các Bài Nên Đọc

• Làm hay không làm chính trị cho Quê Hương ? - Lê Trọng Quát.

• Hãy trả lại sự thật cho người lính Việt Nam Cộng Hòa !

• Tiểu sử Luật Sư LÊ TRỌNG QUÁT - Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa Pháp Ðịnh.

• THÔNG ĐIỆP gửi Quân Đội Nhân Dân và Công An Nhân Dân.

Gs LÊ NGUYỄN CÔNG TÂM: THỈNH NGUYỆN THƯ ĐẾN TT DONALD TRUMP.

LS LÊ TRỌNG QUÁT: VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA PHÁP ĐỊNH.

PHỎNG VẤN LIVE VỚI LS LÊ TRỌNG QUÁT NGÀY 22/11/2017.

• Việt Nam Cộng Hòa, lối thoát của Hoàng Sa và dân tộc. Trần Trung Đạo (Danlambao) - Sau 40 năm nếu tính từ thời gian hải quân Trung Cộng tấn chiếm Hoàng Sa và 56 năm kể từ khi Phạm Văn Đồng gởi công hàm...

Image Small

• Những tấm hình đầy tình người của những người lính VNCH và quân đội Đồng Minh. CHO ĐẾN MÃI ĐẾN HÔM NAY GẦN 40 NĂM, ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LIÊN TỤC ĐƯA LÊN NHỮNG HÌNH ẢNH ĐÀN ÁP, BẮT BỚ, CƯỚP GIỰT, GIAM CẦM...

Image Small

• Việt cộng là tổ sư khủng bố - Khủng Bố xưa và nay : Ai khủng bố ở Việt Nam ? - Tài liệu lịch sử . Cái vụ đặt bom khủng bố, tàn sát già cả lớn bé ....

Image Small

• Hải quân Việt Nam có thể mua 6 máy bay tuần tiễu Mỹ để đối phó với tàu ngầm Trung Quốc - Thụy My . Đài Tiếng nói Nước Nga trong bản tin hôm 20/04/2013...

thuyen nhan

• Không giống ai - Huỳnh Ngọc Tuấn. Tôi đang sống trong một đất nước mà hàng ngày, hàng tháng, hàng năm những cái không giống ai vẫn ngang nhiên diễn ra ...


cong an danh dan

• Một chế độ côn đồ !!! - Ban biên tập BÁN NGUYỆT SAN TỰ DO NGÔN LUẬN. Theo Từ Điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex, “Côn đồ” có hai nghĩa:...


Image Small

• THÁNG TƯ XƯA & NHỮNG HÌNH ẢNH KHÓ QUÊN TRONG NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG TẠI SÀI-GÒN - BT chuyển. Một nén hương ấm tình chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà , thân tàn nhưng hồn vẫn còn khắc khoải mơ ngày tự do cho dân tộc Việt , ngày mở hội khai xuân...


Image Small

• Cảnh sát biển VN hợp tác với Mỹ? - Tin BBC. Một sỹ quan cao cấp của lực lượng tuần duyên Mỹ nói đã có cuộc gặp với cảnh sát biển Việt Nam để bàn việc hợp tác...


Image Small

• Tôi gọi họ là Anh Hùng - Đặng Chí Hùng. Trong cuộc chiến mà Bên thắng cuộc (theo cách gọi của tác giả Huy Đức) đã được đặt vào thế “tất nhiên phải thắng” như tôi từng chứng minh...

*** NHỮNG TỘI ÁC CỦA CỘNG SẢN ĐỐI VỚI QUÂN CÁN CHÍNH VÀ ĐỒNG BÀO MIỀN NAM

Phần1      Phần2      Phần3
Phần4      Phần5      Phần6
Phần7      Phần8     Phần9
Phần10      Phần11

HỒI KÝ TÔI PHẢI SỐNG - LINH MỤC NGUYỄN HỮU LỄ

Phần 1 - 2     Phần 3 - 4
Phần 5 - 6     Phần 7 - 8
Phần 9 - 10     Phần 11 - 12
Phần 13 - 14     Phần 15 - 16
Phần 17 - 18    Phần 19  20
Phần 21- 22     Phần 23-24
Phần 25 - 26    Phần 27 - 28
Phần 29 - 30    Phần 31- 32
Phần 33 - 34    Phần 35 - 36
Phần 37 - 38    Phần 39- 40
Phần 41- 42    Phần 43 - 44
Phần 45 - 46    Phần 47- 48
Phần 49- 50       TỘI ÁC CỦA BÙI ĐÌNH THI

** Audio Book: THIÊN HỒI KÝ TRẠI KIÊN GIAM CỦA NGUYỄN CHÍ THIỆP

** Audio Book: THIÊN HỒI KÝ THÉP ĐEN CỦA ĐẶNG CHÍ BÌNH

 HỒI KÝ TÔI ĐI TÌM TỰ DO CỦA NGUYỄN HỮU CHÍ:

KỲ 1 ĐẾN KỲ 20
KỲ 21 ĐẾN KỲ 40
KỲ 41 ĐẾN KỲ 60
KỲ 61 ĐẾN KỲ 80
KỲ 81 ĐẾN KỲ 95
KỲ 96 ĐẾN HẾT

HỒI KÝ VÕ LONG TRIỀU: MỐC LỊCH SỬ
KỲ 1 ĐẾN 10
KỲ 11 ĐẾN 20
KỲ 21 ĐẾN 30
KỲ 31 ĐẾN 40
KỲ 41 ĐẾN Hết
PHẢN HỒI CỦA DƯƠNG ĐỨC

 

HỒI KÝ ĐÊM GIỮA BAN NGÀY - VŨ THƯ HIÊN

CHƯƠNG 1   CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3   CHƯƠNG 4
CHƯƠNG 5   CHƯƠNG 6
CHƯƠNG 7   CHƯƠNG 8
CHƯƠNG 9   CHƯƠNG 10
CHƯƠNG 11   CHƯƠNG 12
CHƯƠNG 13   CHƯƠNG 14
CHƯƠNG 15    CHƯƠNG 16
CHƯƠNG 17    CHƯƠNG 18
CHƯƠNG 19    CHƯƠNG 20
CHƯƠNG 21    CHƯƠNG 22
CHƯƠNG 23    CHƯƠNG 24
CHƯƠNG 25    CHƯƠNG 26
CHƯƠNG 27    CHƯƠNG 28
CHƯƠNG 29    CHƯƠNG 30
CHƯƠNG 31    CHƯƠNG 32
CHƯƠNG 33    CHƯƠNG 34
CHƯƠNG 35    CHƯƠNG 36
CHƯƠNG 37    CHƯƠNG 38
CHƯƠNG 39    CHƯƠNG 40
CHƯƠNG 41    CHƯƠNG KẾT

BÊN THẮNG CUỘC

Phần1     Phần2A     Phần2B
Phần3     Phần4      Phần5
Phần6     Phần7     Phần8
Phần9      Phần10     Phần11      Phần12
Phần13     Phần14     Phần15
Phần16      Phần17      Phần18
Phần19     Phần20     Phần21
Phần22      Phần KẾT

*** HỒI KÝ 7 NGÀY Ở CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG TRỊ CỦA TRUNG ÚY NGUYỄN NGỌC ẨN

Phần1     Phần2

KÝ SỰ TRONG TÙ CỦA ĐẠI TÁ PHẠM BÁ HOA

Phần1      Phần2      Phần3
Phần4      Phần5      Phần6
Phần7      Phần8

 

*** HỒI KÝ GIẢI KHĂN SÔ CHO HUẾ CỦA NHÃ CA

Phần1      Phần2      Phần3
Phần4      Phần5     

 

VietNamCongHoa


Quoc Huy VNCH
Quốc Huy Việt Nam
Cộng Hòa

-----o0o-----

Các Bài Nên Đọc

• Làm hay không làm chính trị cho Quê Hương ? - Lê Trọng Quát.

• Hãy trả lại sự thật cho người lính Việt Nam Cộng Hòa !

• Tiểu sử Luật Sư LÊ TRỌNG QUÁT - Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa Pháp Ðịnh.

• THÔNG ĐIỆP gửi Quân Đội Nhân Dân và Công An Nhân Dân.

Gs LÊ NGUYỄN CÔNG TÂM: THỈNH NGUYỆN THƯ ĐẾN TT DONALD TRUMP.

LS LÊ TRỌNG QUÁT: VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA PHÁP ĐỊNH.

PHỎNG VẤN LIVE VỚI LS LÊ TRỌNG QUÁT NGÀY 22/11/2017.

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

VietNamCongHoa

 

Chào mừng Quý vị đến với trang web
Việt Nam Cộng Hòa Pháp Ðịnh !

Trang Bình Luận

--------o0o--------

THÁNG TƯ ÐEN VÀ NIỀM ÐAU VONG QUỐC

NGUYỄN CHÂU (San Jose)

Ngày 30 tháng Tư lại về... Bao nhiêu kỷ niệm đau thương riêng và chung của người Việt miền Nam đều đang bừng trỗi dậy. Ba mươi tám năm đã trôi qua, nhưng niềm đau mất nước vẫn tồn tại trong lòng hầu hết những người Việt Nam phải ly hương vì vận nước, vì không chấp nhận chế độ cộng sản ngoại lai, phi nhân, vô thần.

Ba mươi tám năm dài, người Việt ly hương vẫn còn mang hận bọn cộng sản Bắc Việt đem quân đánh chiếm miền Nam Tự Do để thiết lập chế độ cộng sản trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Do đó, ngày 30 tháng Tư năm 1975, là một ngày đen tối, là một Ngày Quốc Hận như những ngày quốc hận khác trong lịch sử Việt Nam.

Dân tộc Việt Nam đã thật bất hạnh, vì đã nhiều lần mang nỗi buồn vong quốc. Văn học sử Việt Nam đã có rất nhiều văn thơ nói lên nỗi niềm của người dân mất nước, nói lên mối hận với kẻ xâm lăng. Trong những áng thơ văn vong quốc đó, tâm sự của cụ Phan Bội Châu thật lâm ly và thống thiết:

Thật vậy, mở đầu sách Việt Nam Vong Quốc Sử, cụ Phan Bội Châu viết:

Không có gì đau bằng người mất nước, cũng không có gì đau bằng người bị mất nước mà bàn việc nước! Tôi muốn viết đoạn sử mất nước này, nhưng đã bao phen lệ cạn huyết khô, mà cơ hồ không viết nổi chữ nào. Nay nhân Ẩm Băng Thất (Lương Khải Siêu, 1873-1929) nói: “Than ôi! Tôi với ông thật là đồng bệnh. Những việc tàn ác của người Pháp thi hành ở Việt Nam, cả thế giới chưa ai biết đến. Ông hãy nói cho tôi rõ, tôi sẽ vì ông mà truyền bá, may ra có thể kêu gọi được dư luận của thế giới”... Tôi nghe nói lấy làm cảm động, gạt nước mắt mà viết cuốn Việt Nam Vong Quốc Sử này.

Việt Nam Vong Quốc Sử viết năm 1929, tác giả cũng đã kể lại rằng sau khi tới Nhật Bản vào đầu năm 1905, ông đã lần lượt gặp nhiều chính khách, trong đó có Lương Khải Siêu. Các nhà cách mạng Trung Hoa này đã khuyên cụ Phan Bội Châu nên dùng thơ văn để tố cáo tội ác của thực dân Pháp và kêu gọi đồng bào trong nước thức tỉnh để cùng nhau chống ngoại xâm. Sau các cuộc gặp gỡ này, năm 1906, cụ Phan Bội Châu đã viết tập thơ “Hải Ngoại Huyết Thư” (Thư Viết bằng máu từ hải ngoại) gửi cho đồng bào trong nước, nội dung tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với dân Việt và nói rõ thực trạng bi đát về chính trị tại Việt Nam, nguyên nhân dẫn tới mất nước và bị cai trị bởi ngoại bang. Thực trạng đó là:

“Một là vua, sự dân chẳng biết
Hai là quan chẳng thiết gì dân
Ba là dân chỉ biết dân
Mặc quân với quốc, mặc thần với ai.”

Có nghĩa là từ vua, quan cho đến dân, không ai nghĩ tới quốc gia, dân tộc cả, chỉ biết lo cho bản thân mình mà thôi! Vua chỉ lo cho ngai vàng, không biết cuộc sống của dân sướng hay khổ, ra làm sao; quan chức thì chẳng coi dân ra gì; còn dân thì chỉ biết mình thôi, mặc kệ vua với nước ra sao thì ra, mặc quan với quyền... Vì vậy nên thực dân mới dễ dàng thống trị. Lời huyết lệ của cụ Phan Bội Châu gởi về quốc nội, mở đầu thống thiết như sau:


Lời huyết lệ gởi về trong nước

Kể tháng ngày chưa được bao lâu
Nhác trông phong cảnh Thần Châu
Gió mây phẳng lặng dạ sầu ngẩn ngơ…
Hồn cố quốc vẩn vơ vơ vẩn
Khôn tìm đường dò nhắn hỏi han
Bâng khuâng đỉnh núi chân ngàn
Khói tuôn khí uất, sóng cuồng trận đau.
Nghĩ nông nỗi đồng bào thêm ngán
Tưởng thân mình chẳng quản một hai
Tiện đây thưa cật mấy lời
Lại xin tỏ giải cùng người quốc nhân.

(*) Thần châu: ý nói đất nước thiêng liêng, quý giá).

Cùng thời với cụ Phan Bội Châu, nhà Nho Trần Tế Xương tức Tú Xương, cũng mang một tâm sự bi đát trước cảnh nước mất, nhà tan mà đa số người dân thì lại thờ ơ khiến cho người yêu nước cảm thấy bơ vơ:

“Một mình đứng giữa quãng chơ vơ
Có gặp ai không để đợi chờ
Nước biếc, non xanh, coi vắng vẻ
Kẻ đi, người lại, ngó bơ vơ...
Hỏi người, chỉ thấy non xanh ngắt
Ðợi nước, càng thêm tóc bạc phơ...”

Trong lúc, người dân bình thường Trần Tế Xương thao thức trước tình cảnh điêu linh của đất nước đầu thế kỷ thứ 20, thì Nguyễn Khuyến, một quan chức có tài của triều đình Nhà Nguyễn, dù đã xin từ quan về quê ẩn dật, vẫn ngấm ngầm dằn vặt và đau khổ vì bất lực trước cảnh vong quốc. Niềm khắc khoải, u uất trong lòng Nguyễn Khuyến đã gửi vào tâm sự của con chim “Quốc” qua bài “Quốc Kêu Cảm Hứng”:

“Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ
Ấy hồn Thục Ðế thác bao giờ?
Năm canh máu chảy đêm hè vắng
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi
hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?
Ban đêm ròng rã kêu ai đó
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ...”

Chim Cuốc còn có tên là Ðỗ Quyên, Tử Quy hay Ðỗ Vũ. Giống chim này, đầu mỏ hơi cong, miệng to đuôi dài, lưng màu tro, bụng sắc trắng có một đường đen nằm ngang. Nó thường lủi trong những bụi rậm cạnh ao sâu hoặc hồ rộng. Cuối mùa xuân đầu mùa hè thì bắt đầu kêu về ban đêm. Giọng kêu rất thê thảm khiến khách lữ hành động lòng nhớ nhà, nhớ quê hương. Người Trung Hoa xưa đã dựng nên một truyền thuyết về chim Ðỗ Quyên.

Truyện kể rằng vua nước Thục là Ðỗ Vũ, vì ham sắc đẹp, đã cướp vợ của một bề tôi là Biết Linh. Biết Linh ghen tức, giận nhà vua vô đạo, nổi loạn, Vua Thục thất bại, mất ngôi, chạy trốn vào rừng. Sau đó, buồn khổ, hối hận, nhớ nước đến sinh bệnh mà chết. Chưa nguôi hận nước, hồn Thục đế gửi vào thân chim Ðỗ Quyên, ngày đêm kêu mãi tiếng “Quốc Quốc”, từ đầu hôm cho đến gần sáng, trăng mờ thì mửa máu ra mà chết...

Ðối với những người sẵn mang tâm sự vong quốc, nhớ nhà thương nước, thì tiếng chim Cuốc thường gợi lên nỗi nhớ nhung một thời oanh liệt xa xôi; có khi thúc giục và làm bừng dậy cái tinh thần ái quốc nồng nàn đang tiềm tàng trong lòng người dân bị mất nước, tan nhà, thân lưu lạc...

Trong Thi ca cổ điển Việt Nam thế kỷ thứ 19, nhiều tác giả đã nhắc đến chim Cuốc.

Trần Danh An, một trung thần nhà Lê (1428-1788), đêm nghe tiếng Cuốc kêu cũng cảm xúc, nhớ lại triều xưa, vua cũ... Ðối với các vị này đất nước được đồng hóa với triều đại, cho nên khi nhà Lê mất ngôi, nhà Nguyễn lên trị vì, họ trở thành người vong quốc; Trần Danh An tâm sự:

"Giá cô minh gia gia
Ðỗ Quyên thanh quốc quốc.
Vi cầm thượng hữu quốc gia thanh,
Cô thần đối thử tình nan địch."


Nghĩa là:

Chim Giá cô kêu gia gia,
Chim Ðỗ Quyên kêu quốc quốc
Loài cầm trên còn kêu tiếng nước nhà
Người bề tôi cô độc này khó mà sánh được...

Bà Huyện Thanh Quan, trước phụng sự nhà Lê, sau được vua Gia Long mời vào Kinh Ðô Phú Xuân dạy học, khi qua đèo Ngang, đã mượn tiếng Cuốc kêu để diễn tả tâm trạng hoài niệm triều nhà Lê của mình:

“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta...”

Tiếng kêu chim Cuốc trong thơ Chu Mạnh Trinh lại não nùng hơn, khi ông đứng trước di tích thành Cổ Loa, xưa kia của vua Thục Phán, cảnh vắng vẻ lạnh lùng, dưới ánh trăng mờ nhạt, tiếng cuốc kêu khắc khoải năm canh buồn bã:

Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu,
Ðỗ Quyên đề đoạn nguyệt âm âm.

(Nguyên văn chữ Hán).

Tiền Ðàm dịch ra Việt:

“Cung miếu triều xưa đây vắng ngắt,
Trăng mờ khắc khoải Cuốc kêu thâu.”

Ðúng như lời cụ Phan Bội Châu “Không có gì đau bằng người mất nước...”, cho nên bất cứ thời đại nào, người mất nước cũng mang nặng hờn vong quốc. Thi sĩ tiền chiến Chế Lan Viên đã mượn “Hận Ðồ Bàn” để âm thầm giải tỏa nỗi căm hờn đối với thực dân Pháp:


“Sầu hận cũ tim ta ai biết được
Người vui tươi, ta mãi mãi căm hờn!”

Nói là “mượn” chuyện Chiêm Quốc là vì Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, một người Việt Nam, làm Thông Phán cho Pháp! Không thể nói thẳng mối hận ra được!

Cùng mang hận vong quốc, nhưng có lẽ những người đang ở trên đất nước phải hàng ngày chung đụng với kẻ thù đang cai trị dân mình, là khổ sở nhiều nhất. Phan Ngọc Hoan thì phải giấu sầu hận cũ trong đáy tim, Vũ Hoàng Chương thì sống trong tâm trạng lưu đày trên chính quê hương mình:


“Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh!”

Ðây cũng là tâm trạng của Nguyễn Khuyến hơn nửa thế kỷ trước, bất lực trước cảnh nước nhà bị Pháp đô hộ, sĩ phu thấy mình là kẻ vô dụng:

“Ông đứng làm chi đấy hỡi ông
Trơ trơ như đá vững như đồng
Ðêm ngày coi sóc cho ai đó
Non nước đầy vơi có biết không?” (Vịnh Phỗng đá).

Cũng là cái nhức nhối tâm can của cụ Phan Bội Châu trước khi theo phong trào Ðông Du: “Ngồi trên nước mà không lo được nước”, hoặc “Ngồi trên nước mà khát nước”.

Nỗi đau mất nước của dân tộc Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư,1975 đã trở nên bi thiết hơn. Bởi vì:

“Cũng có quê hương, không được yêu
Vì chưng chủ nghĩa được nuông chiều
Không yêu chủ nghĩa đành mất nước
Lưu lạc quê người, nỗi tịch liêu.” (Trúc Ti Ly Châu).

Cộng sản Việt Nam đưa ra định nghĩa “Yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa”. Ðây là một sự kiện kỳ quặc, phi lý. Bởi vì, kể từ thời vua Hùng lập quốc đến các triều đại Ðinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn vân vân, dân Việt Nam vẫn yêu nước, vẫn hy sinh để đánh đuổi ngoại xâm giành lại độc lập, tự chủ, nhưng khi đó thì chế độ xã hội chủ nghĩa chưa sinh ra! Và ngày nay, cái gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa ấy đã lỗi thời, làm sao có thể buộc người dân yêu nó như nước mình!

Hiện nay đồng bào quốc nội cũng đang mang niềm đau vong quốc! Bởi vì họ đang bị ly hương trên chính quê hương của mình! Thật vậy, dân Việt Nam tại quốc nội đang “bị quê hương ruồng bỏ” bởi vì nhân dân Việt Nam trong nước đã bị Nhà Nước Cộng Sản tước mất cái quyền thiêng liêng nhất, đó là “quyền yêu nước”. Những người công khai bộc lộ lòng yêu nước chống Trung cộng xâm lăng, hà hiếp, đã bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đàn áp dã man, bắt bớ, kết án và bỏ tù. Nhân dân tiến bộ trên thế giới Tự Do đều lên án cộng sản Việt Nam đã đàn áp người yêu nước, đã chà đạp quyền làm người của dân.

Sống trên quê hương Việt Nam, nhưng nhạc sĩ Việt Khang đã thảng thốt đặt câu hỏi: “Việt Nam Tôi Ðâu?” và hỏi người công an cộng sản Việt Nam “Anh Là Ai?” “Anh là ai mà đánh tôi không một chút nương tay?”

Ôi! Thật là bi đát! Nhạc sĩ trẻ Việt Khang đã bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam bắt giam vì anh đã dám bày tỏ lòng yêu nước nồng nàn khi hỏi rằng:

“Giờ đây Việt Nam còn hay đã mất?
Mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta!
Hoàng, Trường Sa đã bao người dân vô tội
Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc Tàu.”
...

“Việt Nam tôi đâu... Việt Nam tôi đâu... Việt Nam tôi đâu...”

Và Việt Khang đã không kiềm hãm được nỗi lo âu cho đất nước và dân tộc, nên lên tiếng cảnh báo nguy cơ mất nước:

“Tôi không thể ngồi yên
Khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng
Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm
Một nghìn năm hay triền miên tăm tối!
Tôi không thể ngồi yên
Ðể sau này con cháu tôi làm người
Cội nguồn đâu
Khi thế giới này không còn Việt Nam!”

BA MƯƠI THÁNG TƯ LÀ NGÀY QUỐC HẬN

Ngày tang tóc điêu linh của một dân tộc bị mất nước, mất nhà, mất tự do, mất quyền làm người!

Thật vậy, làm sao mà không hận cho được, khi Cộng sản Bắc Việt đã trắng trợn vi phạm Hiệp Ðịnh Paris về lập lại Hòa Bình ở Việt Nam năm 1973, dùng bạo lực xâm lăng miền Nam Việt Nam, áp đặt chế độ cộng sản phi nhân lên nhân dân miền Nam và toàn quốc.

Nước mất, nhà tan, bao nhiêu gia đình lâm vào cảnh tang tóc, ly tán, đau thương... Không hận thế nào được, khi mới chiếm được miền Nam, việc làm đầu tiên của cộng sản Bắc Việt ra tay trả thù và cưỡng chiếm nhà cửa của quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Hơn một triệu người thuộc chính phủ miền Nam bị bắt vào trại tù lao động khổ sai dưới cái tên nhẹ nhàng là Trại Cải Tạo, được dựng lên tại những vùng rừng núi hoang vu, ma thiêng nước độc từ Nam ra Bắc; hàng trăm ngàn dân thành thị, phần lớn là vợ, là con, là thân nhân của công chức, quân đội miền Nam bị xem là “dân ngụy” đã bị tống xuất đến các vùng rừng núi khô cằn, hiểm trở, gọi là Kinh Tế Mới để khai hoang, trồng trọt... mà sống! Hàng chục ngàn đã chết dần mòn vì đói lạnh, ốm đau không thuốc thang điều trị...

Thời Lê Lợi đánh giặc nhà Minh xâm lăng, dân Việt Nam ta có “Hận Nam Quan”; thời Trịnh Nguyễn phân tranh, dân ta có “Hờn Sông Gianh” chia cắt đôi Ðàng, Trong và Ngoài; Năm 1954, cộng sản Bắc Việt đã vâng lệnh Quốc Tế Vô sản tìm cách chia đôi đất nước tại vĩ tuyến thứ 17, trên con sông Bến Hải, dân ta lại có một ngày Ðau Thương và hận dòng sông Bến Hải.

Như vậy mối quốc hận 30 tháng Tư là không thể nào nói khác đi được! Chính cộng sản Bắc Việt đã nhận vũ khí từ Liên Xô và Tàu Cộng để đem đại quân đánh chiếm miền Nam rồi cai trị như một quốc gia bị chiến bại, phá hoại các di tích lịch sử, văn hóa tại miền Nam, cày phá các Nghĩa Trang Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa và luôn xem dân miền Nam như thù địch. Thế nhưng, dù nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam có tẩy não bao nhiêu đi nữa, họ vẫn không thể nào làm tiêu tan mối hận vong quốc trong lòng người miền Nam và hiện nay cả trong lòng người dân miền Bắc vì nước thì cộng Việt dâng cho cộng Tàu, đất ruộng của dân miền Bắc thì đã và đang bị Ðảng cộng sản cưỡng chế, cướp lấy rồi bán cho tư bản ngoại quốc xây nhà, làm sân golf... Dân oan, dân khổ, dân phiền, bị đẩy tới chân tường, dân phải nổi lên!

Do đó, Ba Mươi Tháng Tư đúng là Ngày Quốc Hận! Mưu đồ đổi tên Ngày Ba Mươi Tháng Tư thành Ngày Nam Việt Nam sẽ thất bại thảm hại bởi vì nó phi lý và lãng xẹt, nói lên sự ngu muội của những kẻ manh tâm đưa đề nghị lên Quốc Hội bang Virginia! Nam Việt Nam đã bị cộng sản Bắc Việt đánh chiếm vào ngày 30-4-1975, tức là Nam Việt Nam đã mất, thì đúng ra phải gọi là “Ngày Giỗ Nam Việt Nam”, chứ sao lại gọi trổng là Ngày Nam Việt Nam, thưa ông Nguyễn Ngọc Bích, giáo sư Anh văn (một trong những người tham gia vào mưu đồ trên đây)! Ông nghĩ thế nào mà lại dấn thân vào cuộc biến cải phi lý này?

“Tang điền biến vi thương hải” (ruộng dâu biến thành biển xanh) cuộc “biển dâu”* (mulberry Sea) này không thể ứng dụng vào mưu đồ đen tối nhằm hủy đi Ngày Quốc Hận của nhân dân nước Việt Nam Cộng Hòa trước 1975!


* Ghi chú: GS. Nguyễn Ngọc Bích từng dịch từ ngữ “biển dâu” thành “mulberry sea” tức là “dâu biển” trong ý nghĩa của chữ “biển dâu” chỉ sự biến đổi vô thường do câu ““Tang điền biến vi thương hải” và ngược lại “Thương hải biến vi tang điền”.

Nguyễn Châu (San Jose)

----------o0o-----------